(024) 35577799
Tiếng Việt

Ưng bất bạc - Cây thuốc tốt cho gan

Cập nhật: 14/09/2018
Lượt xem: 1.403
                    
                                                      Pgs-Ts-NCV cao cấp:  Nguyễn Thượng Dong
                                                            Nguyên Viện trưởng Viện Dược liệu

        Sau khi Bộ Khoa học và Công nghệ lập Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo Quốc gia đến năm 2025”, gọi tắt là DA 844, trong đó có Dự án “Đánh thức tiềm năng dược liệu quý ngàn năm Ưng bất bạc, phát triển thành công sản phẩm bảo vệ gan HEPOSAL của Công ty cổ phần Dược Mỹ phẩm CVI”  trên cơ sở 2 Bằng sáng chế 8,409,632 B2 của Cục sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ cấp ngày 2/4/2013, Bằng sáng chế 409075 của Đài Loan cấp ngày 21/9/2013 và giải thưởng “Nghiên cứu Trung Y Dược Hứa Hồng Nguyên” của Đài Loan cấp năm 2012 cho Ts Trần Đức Dũng, thì cây thuốc quý Ưng bất bạc lại được nhiều người  trong và ngoài nước quan tâm.
       Ưng bất bạc là loài cây nhỡ, thân có gai ngắn, lá kép lông chim hình mũi mác, mép lá khía răng cưa, tên khoa học là Zanthoxylum avicennae, thuộc họ Cam quit - Rutaceae, là vị thuốc lâu đời ở Trung Quốc, được ghi trong “Thần Nông bản thảo” từ thời  nhà Tần, năm 221 trước công nguyên. Quyển sách đầu tiên về Dược Thực vật này đã viết về Ưng bất bạc như sau : “Cây cối thường là nơi để các loài chim trú ngụ, là bạn của chim muông, cũng là nơi để chim làm tổ, sinh con. Nhưng Ưng bất bạc (Ying Bu Bo) là loài cây rất đặc biệt, với nhiều sự kỳ lạ, cây này rất nhiều lá cứng, rậm rạp quanh năm, gai lại sắc nhọn, khối lá trên cây như một “núi đao, biển kim”, làm cho chim không những không thể sinh sống mà còn sợ hãi. Chính vì vậy mà cây Ưng bất bạc còn có tên gọi khác là “Điều bất túc”, “Ô nha bất xí thụ”, “Ô bất túc”… Ở Việt Nam gọi là  Muồng truổng, Đơn gai, Truổng lá nhỏ, Sẻn đen, Sẻn quả ba cạnh, người Tày gọi là “Mạy khuống”, là vị thuốc chữa bệnh gan của dân tộc Tày, được ưa chuộng hơn so với những cây thuốc chuyên chữa bệnh gan khác như Mạy niếng, Mạy thập moong…
       Ở Bắc Mỹ, loài Zanthoxylum americanum cũng là dược thảo truyền thống của nhiều bộ tộc để chữa đau răng, kích thích tuần hoàn máu và chữa bệnh thấp khớp, được ghi vào Dược điển Mỹ từ 1820 đến 1926. Ở Tây Phi, loài Zanthoxylum zanthoxyloides cũng là vị thuốc truyền thống chữa thấp khớp. Các nhà dược thảo phương Tây cho rằng, loài Ưng bất bạc kích thích máu chảy đến các khớp bị đau cứng, tăng cường cung cấp oxy và chất dinh dưỡng, loại bỏ chất bẩn, tăng cường lượng máu đến tứ chi. Ở Trung Quốc sử dụng rộng rãi 2 loài là Ưng bất bạc và Xuyên tiêu (Zanthoxylum bungeanum). Từ loài Xuyên tiêu hay còn gọi là Hoa tiêu, Trung Quốc đã bào chế thành dạng thuốc tiêm bắp, sử dụng rộng rãi ở các bệnh viện trong các trường hợp đau ruột co thắt, đau thắt mật, đau ở vùng gan, đau thắt ngực, đau đầu…tác dụng giảm đau kéo dài 2–4 giờ, ngoài ra còn dùng trong các trường hợp ruột cứng tắc do giun kim (bách tử đàm), vỏ quả là vị thuốc “Thổ hoa tiêu”.
        Việt Nam có 12 loài, trong đó 6 loài được sử dụng làm thuốc. Loài Ưng bất bạc chỉ gặp ở các tỉnh trung du và vùng núi thấp từ 400m đến 1000m. Trên thế giới, Ưng bất bạc phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Dương và một số tỉnh phía Nam Trung Quốc. Cây tồn tại được qua nhiều lần chặt phá, phần gốc còn lại tiếp tục tái sinh cây chồi.
       Theo Y văn cổ của Việt Nam và Trung Quốc, Ưng bất bạc có vị cay, tính ấm, quy vào các kinh can, tỳ, vị, dùng để chữa trị các chứng viêm gan vàng da, viêm gan mạn, viêm thận phù thủng, thấp khớp, tổn thương do đòn đánh, eo lưng đau mỏi, hoạt huyết, giảm đau, lá chữa viêm tuyến vú, đinh nhọt…Có thể phối hợp với các vị khác (phối ngũ) để chữa trị các chứng : can thận hư tổn, phế vị táo nhiệt, khí âm lưỡng khuy, ứ huyết nội trở. Nếu can thận hư tổn thì phối với địa hoàng để ích thận dưỡng can, thanh nhiệt tả hỏa. Nếu phế vị táo nhiệt thì phối với thương truật để tả hỏa, sinh tân, chỉ khát. Nếu khí âm lưỡng khuy thì phối với đảng sâm để ích khí dưỡng âm. Nếu ứ huyết nội thì phối với đương quy, xuyên khung để hoạt huyết hóa ứ. Trong “Lĩnh Nam Thảo dược chí”  thì ghi, rễ Ưng bất bạc có công năng hóa thấp, khu phong, tiêu thủng, hư vàng, dùng để trị các chứng bệnh cổ chướng, viêm gan vàng da. Liều sử dụng cho cả 2 chứng viêm gan mạn và viêm thận thủy thủng là 20 đến 30g, sắc uống.
         Ưng bất bạc chứa nhiều alcaloid như dictamin, skimmianin, culantramin thuộc nhóm quinolin. Vỏ thân, vỏ rễ và lá chứa tinh dầu và các flavonoid quý như diosmin, avicin, avicenin, magnoflorin, hesperidin và nhiều chất khác thuộc nhóm Lignan, có cấu trúc hóa học gần giống silymarin rất đặc hiệu cho bệnh gan. Hesperidin trong Ưng bất bạc đã được chứng minh có tác dụng phục hồi, tái tạo tế bào gan, ngăn ngừa xơ gan, ung thư gan. Đã được các nhà nghiên cứu Ai Cập và Thái Lan chứng minh có khả năng chống oxy hóa tế bào gan, khử gốc tự do, ngăn ngừa tổn thương gan, viêm gan do hóa chất và thuốc tân dược trên mô hình  COX1 và COX2,  ngăn ngừa sự tạo thành colagen ở tế bào gan dẫn đến xơ gan và phòng ngừa gan nhiễm mỡ. Diosmin có tác dụng làm giảm tổn thương tế bào gan do rượu, tăng cường chuyển hóa và đào thải ethanol, hạ men gan, tăng cường chức năng gan, cải thiện các chỉ số glucosa máu, cholesterol, ure máu và hạ các men gan như AST và ALT… Các lignan có cấu trúc phytoestrogen, nên có tác dụng chống oxy hóa, đào thải các gốc tự do mạnh, tái tạo các tế bào gan bị tổn thương. Tinh dầu trong Ưng bất bạc chủ yếu thuộc nhóm monoterpen và sesquiterpen, có hoạt tính kháng khuẩn mạnh, kích hoạt quá trình tự chết của tế bào ung thư gan.
        Dược sỹ Trần Đức Dũng đã nghiên cứu trong 10 năm tại Đài Loan trên mẫu Ưng bất bạc thu tại Nam Đàn Nghệ An, đã chứng minh được 4 nhóm tác dụng quan trọng của vỏ rễ Ưng bất bạc  như : (1) bảo vệ tổn thương tế bào gan do rượu và tân dược, kháng virus viêm gan B, hạ men gan và phục hồi các chức năng gan, (2) tác dụng diệt tế bào ung thư gan người HA22T của cao chiết Ưng bất bạc, thông qua cơ chế hoạt hóa protein PP2A, làm giảm sự phát triển của khối u, (3) cao chiết Ưng bất bạc ức chế sự sản sinh ra tế bào ung thư HA22T và (4) cao chiết Ưng bất bạc ức chế sự tăng sinh, khả năng xâm lấn và ức chế các tín hiệu di căn của tế bào ung thư  HA22T thông qua hoạt hóa protein PP2A. Các nghiên cứu trên tế bào ung thư gan được tiến hành trên chuột đã bị gây suy giảm miễn dịch (chuột nude). Nhóm 1, tiêm tế bào ung thư HA22T vào đùi nhưng không được điều trị để làm nhóm đối chứng. Nhóm 2, vừa tiêm tế bào ung thư vừa uống  cao chiết Ưng bất bạc liều thấp (20mg/kg chuột). Nhóm 3, vừa tiêm tế bào ung thư vừa uống cao chiết Ưng bất bạc liều cao (40mg/kg chuột). Kết quả nghiên cứu cho thấy :
     Cao chiết Ưng bất bạc có tác dụng làm tăng từ 3 đến 3,5 lần quá trình tự chết của tế bào ung thư HA22T theo chương trình (apoptosis) sau 24 giờ uống thuốc, làm giảm kích thước từ 59 đến 86,3% khối u trên đùi chuột.  Về tác dụng chống xâm lấn và di căn của tế bào ung thư HA22T : di căn của tế bào ung thư gan thường đi kèm với tín hiệu  hoạt hóa của protein PP2A. Chuột được điều trị với cao chiết Ưng bất bạc, làm tăng mạnh các tín hiệu hoạt hóa  protein PP22A, trực tiếp kích thích các tương tác giữa các protein và ức chế beta-cathenin, tín hiệu biểu hiện của di căn. Tác giả kết luận rằng, trong tương lai gần tác dụng này có thể được đánh giá bằng các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, để sớm tạo thành sản phẩm điều trị bệnh ung thư gan. Nhờ những kết quả đã đạt được, tác giả đã được công nhận học vị tiến sỹ dược học và được Ủy ban khoa học và công nghệ Đài Loan cấp bằng sáng chế và tặng giải thưởng “Nghiên cứu Trung Y dược Hứa Hồng Nguyên”, một giải thưởng khoa học uy tín của Đài Loan.
        Qua các nội dung đã tổng hợp, có thể rút ra một số kết luận về cây dược liệu quý chữa bệnh gan như sau : (1) Ưng bất bạc là cây thuốc chữa bệnh gan truyền thống của nhiều nước từ hàng nghìn năm trở lại đây, ở Việt Nam là vị thuốc chữa bệnh gan nổi tiếng của dân tộc Tày với tên gọi Mạy khuống. (2) Được nhiều  dân tộc dùng để chữa bệnh viêm gan vàng da, viêm gan mạn và đã được khoa học chứng minh có tác dụng bảo vệ và tái tạo tế bào gan bị tổn thương do rượu và hóa chất, hạ men gan, viêm gan virus B, khôi phục các chức năng của tế bào gan, ngăn ngừa sự tạo thành colagen trong tế bào gan và chống xơ gan. (3) Các công trình nghiên cứu của Trần Đức Dũng tại Đài Loan đã chứng minh, cao chiết Ưng bất bạc có tác dụng diệt tế bào ung thư gan HA22T phân lập từ bệnh nhân ung thư gan, làm gia tăng chỉ số tự chết của tế bào ung thư từ 3 đến 3,5 lần, ức chế phát triển của tế bào ung thư gan, làm giảm kích thước khối u từ 59 đến 86,3%, ức chế quá trình sản sinh của tế bào ung thư, ức chế xâm lấn và di căn của tế bào ung thư gan. (4) Các kết quả nghiên cứu được tiến hành trên cả 2 mô hình invitro và gây ung thư bằng cách tiêm trực tiếp tế bào ung thư gan người HA22T vào đùi chuột (invivo), mô hình này gần giống với cơ chế sinh bệnh ung thư trên người, nên có độ tin cậy khá cao (5) Kết quả nghiên cứu trên Ưng bất bạc là một đóng góp rất quan trọng cho khoa học, nên đã được Cục sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ và Ủy ban KH&CN Đài Loan cấp bằng sáng chế, giải thưởng Nghiên cứu Trung Y dược Hứa Hồng Nguyên và được Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đưa vào Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia đến năm 2025”.
     Từ các kết quả nghiên cứu trên, Công ty cổ phần dược mỹ phẩm CVI đã được Bộ Y tế cho phép theo Quyết định số 414/2018/ĐKSP sản xuất  và công bố sản phẩm Heposal dưới dạng viên nang cứng, chứa 450 mg PYBBE (cao chuẩn hóa từ Ưng bất bạc theo bằng sáng chế của Mỹ số US8409632B) kết hợp với 25 mg Phosphocomplex TM (Phytosome silybin 33%) với công dụng : “Hỗ trợ tăng cường chức năng gan, bảo vệ và phục hồi tế bào gan, giải độc gan do rượu bia, thuốc, hóa chất, hỗ trợ giảm nguy cơ và làm chậm sự phát triển của xơ gan, hạ men gan, giảm tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị”. Dùng cho người bị viêm gan siêu vi B, xơ gan, men gan cao, dùng thuốc hoặc hóa chất có hại cho gan, người phải tiếp khách uống nhiều rượu bia, người có chức năng gan suy giảm, đang hoặc sau quá trình hóa trị xạ trị.
      Rượu khi vào cơ thể, dưới tác dụng của enzym alcaldehydrasa, phân hủy thành acid acetic (giấm ăn) thải qua đường tiêu hóa và acetaldehyd là chất độc gây viêm gan, xơ gan, ức chế và phá hủy tế bào thần kinh TK…Các nhà khoa học đã nghiên cứu tác dụng giải rượu bằng cách: cho 2 nhóm thỏ, một nhóm chỉ uống rượu, còn nhóm kia vừa cho uống rượu vừa cho uống cao chiết. Sau 2 giờ lấy máu của cả 2 nhóm để định lượng hàm lượng cồn trong máu. Họ đã nhận thấy : Ở nhóm thỏ được uống thuốc thử, hàm lượng cồn trong máu thấp hơn. Trong Ưng bất bạc có chứa các chất thuộc thuộc nhóm flavonoid như Diosmin và Hesperidin, các chất này có tác dụng ức chế enzym alcoldehydrasa (ALDH) chuyển hóa rượu thành acetaldehyd, làm tăng quá trình đào thải cồn ra ngoài cơ thể. Không tạo thành acetaldehyd có nghĩa là tế bào gan không phải tiếp súc với chất độc, như vậy là bảo vệ gan.
      
    Gan có 3 chức năng (1) Tạo mật để tiêu hóa chất béo (2) chuyển hóa các chất như tinh bột để điều hòa đường huyết, chuyển hóa lipid để este hóa chlestrerol và acid béo, chuyển hóa protein để điều chỉnh hàm lượng albumin trong máu (khi gan bị tổn thương, hàm lượng albumin giảm) và (3) giải độc nội sinh và ngoại sinh (độc ngoại sinh như rượu và tân dược). Khi gan bị tổn thương, các men gan như AST, ALT, MDA…tăng, Ưng bất bạc có tác dụng làm giảm các men gan. Như vậy, Heposal có cả 3 tác dụng : Bảo vệ tế bào gan trước sự tấn công của các tác nhân có hại, ức chế phản ứng viêm do virus và rượu và ngăn ngừa hình thành các té bào gan xấu như xơ gan, ung thư gan…Ưng bất bạc còn có tác dụng trên men gây xơ gan colagenasa, làm giảm hàm lượng colagen gây xơ gan, vì vậy còn có tác dụng hạn chế và ngăn ngừa sự phát triển của xơ gan.    

Tin tức mới nhất

Xem tất cả
Xem tất cả
KẾT NỐI SINH VIÊN VỚI DOANH NGHIỆP
   
Copyright © 2015 Dainam.edu.vn
ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN
 
Kết nối
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
Cơ sở chính: Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội
Cơ sở 1: 56 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: (024) 35577799 - Fax: (024) 35578759
Email: dnu@dainam.edu.vn
 
BẢN ĐỒ
Xem bản đồ lớn
Untitled-_635779296109267799.png