(04) 35577799
Tiếng Việt

Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các ngân hàng TMVN

Cập nhật: 25/10/2016
Lượt xem: 5.849
     Trước sức ép cạnh tranh từ tiến trình hội nhập và đặc biệt là sau khủng hoảng kinh tế -tài chính thế giới 2008 -2010, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội rất lớn. Sự đổi mi hưng đầu tư của các ngân hàng thương mại để phù hp vi nh hình kinh tế cụ thể là bước đi cần thiết và quan trng. Và  phát triển dịch vụ phi tín dụng là một lựa chọn thông minh. Đặc biệt, trong đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QĐ-TTg, ngày 01/03/2012 xác định rõ “Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng” cho thấy rằng, chúng ta đã nhận thức được vai trò của dịch vụ phi tín dụng trong việc mang lại nguồn thu ổn định, an toàn hơn cho các ngân hàng thương mại. Đồng thời, sự phát triển dịch vụ phi tín dụng có vai trò rất quan trọng, quyết định sự tồn tại của một ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
     Song cho đến nay, mảng dịch vụ phi tín dụng tại các NH còn đơn điệu về hình thức, chất lượng chưa cao, quy mô dịch vụ nhỏ, sức cạnh tranh còn hạn chế; trong khi đó hoạt động marketing chưa thực sự hiệu quả nên tỷ lệ khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động phi tín dụng tại các ngân hàng còn hạn chế; việc xây dựng chiến lược rõ ràng cho phát triển dịch vụ phi tín dụng chưa được chú trọng, mà thường lồng ghép vào chiến lược phát triển chung của ngân hàng; Trình độ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển các dịch vụ phi tín dụng ứng dụng công nghệ cao như: giao dịch các công cụ phái sinh, ngân hàng điện tử, ủy thác...còn chưa được phát huy tối đa để đem lại hiệu quả tương xứng với năng lực và lợi thế; bên cạnh đó thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam cũng là một trở ngại lớn trong việc phát triển mạng lưới thẻ nói riêng và dịch vụ phi tín dụng nói chung của ngân hàng. Kết quả là nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng của các ngân hàng trong những năm gần đây dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn khiêm tốn.
     Vậy giải pháp nào để pháp triển dịch vụ phi tín dụng thực sự hiệu quả cho các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các NHTMCP ngoài quốc doanh ?
1.   Vài nét về phát triển dịch vụ phi tín dụng của các NHTM
DVPTD có thể phát sinh đồng thời với hoạt động của DVTD (huy động vốn và cung cấp vốn) của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn. Bên cạnh đó, một số DVPTD hoạt động độc lập với hoạt động tín dụng như: Thu hồi tiền tiêu thụ sản phẩm cho khách hàng; Thanh toán chi trả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất; Chuyển tiền lương qua tài khoản; Chuyển tiền nộp thuế cho khách hàng…
 Để nhận biết dịch vụ NH nào là  DVPTD có thể dựa vào các yếu tố sau:
Thứ nhất: Khi khách hàng thực hiện giao dịch với KH thì NH không phải sử dụng đến nguồn vốn (hoặc nếu có thì sử dụng không nhiều nguồn vốn) của mình để thực hiện giao dịch.
Thứ hai: Khi khách hàng giao dịch với NH thì khách hàng phải chi trả một khoản phí khi NH thực hiện cung ứng các DV cho khách hàng. Thu nhập của NH lúc này được thực hiện dưới dạng thu phí chứ không phải thực hiện dưới dạng thu lãi và trả lãi (lãi suất) như DV tín dụng.
Như vậy, Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập bằng các khoản phí xác định thu được từ khách hàng, không bao gồm dịch vụ tín dụng.
Quan điểm về phát triển DVPTD dựa trên hai khía cạnh đó là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, có nghĩa là Phát triển là tăng qui mô, số lượng, chất lượng của dịch vụ đã có, đồng thời phát triển thêm dịch vụ mới.
·        Phát triển dịch vụ phi tín dụng theo chiều rộng
Phát triển DVPTD theo chiều rộng đó là việc tăng qui mô, số lượng các DVPTD đã có và mở thêm DVPTD mới, nó gắn liền với việc đa dạng hóa các loại hình DVPTD NH.
Có thể hiểu phát triển DVPTD mới là những DVPTD lần đầu tiên được đưa vào danh mục dịch vụ kinh doanh của NHTM. Theo cách hiểu này, DVPTD mới được chia thành hai loại:
Thứ nhất: DVPTD mới  hoàn toàn: Đây là những  DVPTD mới  đối với  NH và thị trường.
Thứ hai: DVPTD mới về chủng loại (dịch vụ sao chép) là DVPTD chỉ mới đối với NH, không mới so với thị trường. Phát triển DVPTD mới loại này NH có thể tận dụng được lợi thế của người đi sau, sẽ tránh được những sai lầm của người đi trước. Vì vậy phát triển DVPTD mới loại này được coi là trọng tâm của xu thế phát triển DVPTD mới của các NHTM hiện nay.
·        Phát triển dịch vụ phi tín dụng theo chiều sâu
Phát triển DVPTD theo chiều sâu, có nghĩa là hoàn thiện DVPTD đã có, nó gắn liền với việc nâng cao chất lượng DVPTD, đó chính là tính chính xác, nhanh nhạy, tính tiện ích…mà DVPTD có thể mang lại cho khách hàng.
Việc phát triển DVPTD theo chiều sâu không phải tạo thêm các DVPTD mới mà chỉ là việc tạo ra những phiên bản mới, những DVPTD hiện tại với những tính năng tác dụng mới ưu việt hơn DVPTD cũ. Vì vậy, việc phát triển DVPTD theo chiều sâu hiện nay thường tập trung theo hướng sau:
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng DVPTD bằng việc hiện đại hóa công nghệ, tăng cường thiết bị, phương tiện phục vụ khách hàng, đổi mới phong cách giao dịch của nhân viên.
Thứ hai: Làm cho việc sử dụng DVPTD trở nên dễ dàng, hấp dẫn hơn và đem lại cho khách hàng những giá trị và tiện ích mới bằng cách hoàn thiện qui trình, đơn giản hóa thủ tục nghiệp vụ và tính năng của DVPTD, tăng cường hướng dẫn khách hàng về qui trình sử dụng DVPTD, thông tin kịp thời về những đổi mới của DVPTD. Đặc biệt là những đổi mới đem lại tiện ích, lợi ích cho người sử dụng.
Thứ ba: Thay đổi cách thức phân phối bằng việc mở cửa giao dịch ngoài giờ hành chính, tăng cường các giao dịch qua hệ thống phân phối NH hiện đại..
2.   Thực trạng phát triển DVPTD tại các NHTM VN hiện nay
a)   Về  thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng
Dịch vụ phi tín dụng đã được triển khai khá phong phú, tập trung ở 12 hình thức chủ yếu sau: Dịch vụ thanh toán tiền mặt và phi tiền mặt với hình thức nhờ thu và thư tín dụng (L/C); Mua - bán ngoại tệ; Uỷ thác; Thẻ; Quản lý tiền mặt; Tư vấn và cung cấp thông tin; Ngân hàng giám sát; Bảo lãnh; Ngân hàng điện tử; Kế toán; Giao dịch các công cụ phái sinh; Môi giới đầu tư chứng khoán…
Hiện nay thu từ DVPTD trung bình chiếm từ trên 20%  đến 35% tổng thu nhập ngân hàng. Trong đó, thu từ DVPTD chủ yếu là từ phí ( chiếm khoảng 60%  tổng thu từ hoạt động phi tín dụng) bên cạnh đó là thu từ DV kinh doanh và đầu tư (như kinh doanh ngoại Ngoại hối, vàng và Các dịch vụ tài chính phái sinh). Với mục tăng tỷ trọng thu nhập từ DVPTD/ tổng thu nhập lên 45-55% các NHTM cần nỗ lực thêm rất nhiều.
Điển hình kể đến là trường hợp của Vietcombank. Tính cho đến hết quý I/2016 Vietcombank là NH lớn thứ 3 trên thị trường NH Việt Nam (tính theo tổng tài sản), chỉ đứng sau BIDV và Vietinbank. Đây cũng là NHTM có DV PTD được triển khai sớm và đạt hiệu quả tốt.
Biểu đồ 1: Cơ cấu thu nhập của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
giai đoạn 2013 –  T03/2016
Đầu tư cho mảng DVPTD tại Vietcombank luôn được chủ trọng, kết quả đạt được đã có sự cải biến tích cực, DVPTD đã và đang mang lại một khoản thu nhập ổn định cho các NH. Song thực sự thu nhập từ DVPTD vẫn còn khá khiêm tốn so với mục tiêu và khả năng của NH
Bảng 1: Tỷ trọng thu nhập từ DVPTD của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2011-Q1/2016
Theo năm tài chính kết thúc 31/12 hàng năm 2011 2012 2013 2014 2015 Q1/2016
Thu nhập DVPTD trên thu nhập hoạt động kinh doanh (%) 26,47 27,45 30,47 31,96 27,11 24,10
Nguồn: http://vietcombank.com.vn/
Trong đó, xét về cơ cấu các loại hình DVPTD thì tỷ lệ tăng trưởng đang dần thiên về DVPTD hiện đại, và có thể nói trong những năm gần đây các giao dịch công cụ tài chính phái sinh đạt mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm DVPTD hiện đại. Các DV PTD như DV thanh toán, DV NHĐT, DV kinh doanh ngoại tệ cũng là những DV có tỷ trọng thu nhập tương đối lớn trong tổng thu nhập DVPTD của các NH.
b)     Về mức độ tăng trưởng số lượng kênh phân phối hiện đại
Cùng vi vic mở rộng mng lưi chi nhánh và kênh phân phi truyn thng, ngân hàng đã đy mạnh phát trin các kênh pn phi hin đi như: Mng lưi ATM và c đim chp nhn th(POS).
ATM đưc xem là kênh NH tự phc v, một kênh pn phi hin đi, Hơn 10 năm về trước, một cột mốc được cho là điểm khởi đầu của thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam. Khi đó, toàn thị trường chỉ có 2 loại thẻ nội địa dùng trên máy ATM là Connect 24 của Vietcombank và F@st Access của Techcombank với tổng số lượng phát hành đạt 234.000 thẻ (kể cả thẻ nội địa và thẻ quốc tế). Đến năm 2015, số lượng thẻ phát hành đã gấp 368 lần và luôn duy trì tỷ lệ tăng trưởng rất cao hằng năm, có năm trên 300%. ATM cung cấp các DV 24h/ngày, 365 ngày/năm và được lắp đặt tại các điểm thuận tiện cho khách hàng thực hiện giao dịch. ATM không chỉ đơn thuần chỉ để thực hiện giao dịch rút tiền, với các tiến bộ về công nghệ thông tin và phổ biến của internet, ATM có thể cung cấp một cách hiệu quả các DVNH khác như truy vấn thông tin, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn và thực hiện các giao dịch điện tử khác và đây cũng là kênh quảng cáo hiệu quả trong hoạt động DVPTD.
Biểu đồ 2: Số lượng thẻ của NHTM phát hành phân theo nguồn tài chính
giai đoạn 2010 - 2015
Nguồn: www.vnba.org.vn
Cùng với sự phát triển các dịch vụ thẻ phải đi kèm xây dựng và kết nối các hạ tầng thanh toán. Sau năm 2011, các ngân hàng chuyển trọng tâm từ ATM sang phát triển hệ thống thanh toán POS nên kênh giao dịch tự động ATM có chiều hướng tăng trưởng nhẹ.
Biểu đồ 3: Số lượng máy ATM và POS của hệ thống NHTM VN
giai đoạn 2010 - 2015
Nguồn: www.vnba.org.vn
Theo thông báo từ hiệp hội ngân hàng Việt Nam tính đến 31/12/2015, toàn thị trường đã có 16.573 máy ATM và 217.470 máy POS, mức tăng trưởng lần lượt là 23% và 181% so với năm 2011. Đây là “bệ phóng” và cơ sở để các ngân hàng càng đặt niềm tin vào sự phát triển của các loại thẻ ngân hàng khác nhau.
Như vậy hệ thng nh pn phối qua máy ATM và POS đã không ngng tăng lên qua c năm. Đc bit làc đim chp nhận thanh toán (POS)
Ngi vic phát trin c kênh pn phi hin đi như hin nay, các ngân hàng cũng đã mở rộng các nh giao dch khác bằng vic thiết lp mi quan hvới các NH và tổ chc tài chính trong và ngoài nước.
c)  Tỷ lệ đầu tư vào dịch vụ phi tín dụng của các NHTM
Nếu như trước năm 2012 tỷ lệ đầu tư dịch vụ phi tín dụng của các NHTM chỉ chiếm trung bình dưới 15% tổng thu nhập, còn tương đối khiêm tốn thì từ sau năm 2013 trở lại đây chi phí đầu tư cho dịch vụ phi tín dụng đã được chú trọng và cải thiện hơn. Điển hình là ngân hàng ACB, từ năm 2014 tỷ lệ đầu tư cho dịch vụ phi tín dụng luôn đạt trung bình trên 25% tổng thu nhập.
Theo các tài liệu khảo sát phỏng vấn đáng tin cây, tỷ lệ đầu tư hợp lý cho hoạt động phi tín dụng nhằm đạt tối đa lợi nhuận từ hoạt động phi tín dụng thì đa số các ý kiến trả lời phỏng vấn đều cho rằng tỷ lệ đầu tư cho hoạt động phi tín dụng chiếm 30%-40% trên tổng thu nhập của NH là hợp lý. Theo tác giả đánh giá thì tỷ lệ đầu tư cho dịch vụ phi tín dụng chiếm khoảng 30-40% thu nhập của ngân hàng trong giai đoạn hiện nay và sắp tới gần đây có thể coi là một tỷ lệ đầu tư hợp lý để phát triển dịch vụ phi tín dụng tương xứng với những cơ hội cũng như mục tiêu của ngân hàng (là đạt thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng chiếm 45-55% tổng thu nhập ngân hàng). Bởi lẽ để xây dựng nền tảng và phát triển dịch vụ phi tín dụng cần chi phí đầu tư ban đầu là khá lớn. Do đó, các ngân hàng cần chú trọng đầu tư hơn nữa để nâng cao chất lượng và hiệu quả của DVPTD tại ngân hàng.
d)  Về mức độ hài lòng của KH
     Hiện nay, có thể nói KH tương đối hài lòng về DVPTD của NH cung cấp. chất lượng dịch vụ PTD được đánh giá ở mức điểm khá cao trung bình trên 3.7/5. Các DVPTD thể hiện được sự quan tâm và thấu hiểu các nhu cầu của KH, đem lại cho KH sự thỏa mái và tiện ích. 100% các KH được khảo sát đều cho mức điểm từ 3 trở lên (trên thang điểm 5). Các DVPTD cung cấp được cho là có tính an toàn tương đối cao tuy nhiên KH chưa thực sự hài lòng ở việc DVPTD triển khai còn có những sai sót.
     Về chính sách KH hiện nay của NH cũng khiến KH khá hài lòng, được KH đánh giá là đa dạng và mang lại nhiều lợi ích cho KH, có sự phù hợp với mong muốn của KH và có tính cạnh tranh cao. Ví dụ, hiện nay, đối với các KH ưu tiên của NH, KH sẽ nhận được rất nhiều các ưu đãi vượt trội cả về mặt lợi ích kinh  tế và tiện ích dịch vụ. NH cũng áp dụng chính sách số thu phí tối đa cho các giao dịch liên quan đến chuyển tiền. Những chính sách này khiến KH rất hài lòng và đánh giá cao.
3.  Một số hạn chế và nguyên nhân trong phát triển dịch vụ phi tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện nay
Thnht: Cht lượng DVPTD còn hạn chế, tin ích dch v chưa cao
DVPTD của ngân hàng hiện nay qui trình thủ tc còn phc tp, thiếu tin ích và tính năng, mức đn đnh ca công nghệ trong DVPTD hin đi chưa cao. Như các DV th, DVNH đin tchưa hoàn toàn n đnh, còn diễn ra tình trạng lỗi giao dịch hoặc máy tạm thời hết tiền. Số lượng và chất lượng các cây ATM, POS chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, việc bố trí cũng gây bất tiện cho KH. vậy, chất lượng phc vđang đưc quan tâm ci thin.
Thhai: Số lượng dịch vụ phi tín dụng thực tế cung cấp đến KH còn hạn chế
Số lượng các DV PTD được xây dựng và triển khai ở các ngân hàng là khá đa dạng, song tại các ngân hàng, các DV này chưa được triển khai đồng đều và hiệu quả. Các dịch vụ PTD được khai thác chủ yếu là DV Thanh toán, DV Tài chính phái sinh, DV kinh doanh ngoại tệ, DV, .. còn các DV PTD khác có doanh số hoạt động còn nghèo nàn. Đặc biệt các DV Bảo hiểm, DV chứng khoán, DV bảo quản tài sản, gần đây đã được cải thiện hơn nhưng không đáng kể, gần như bỏ ngỏ thị trường. Đây là điều hết sức lãng phí.
Thứ ba, kênh phân phối còn chưa thực sự hiệu quả
Về thực tế, các kênh phân phối truyền thống như PGD chi nhánh khả năng khai thác thêm bị nhiều giới hạn và chi phí cao.
Còn về các kênh phân phối hiện đại, chủ yếu được nói đến ở đây là các máy ATM và POS. Bên cạnh đó, có một kênh phân phối mà các ngân hàng đang sử dụng và phát triển đó là kênh phân phối dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thông như điện thoại và internet. Sự phát triển của kênh phân phối này khá nhanh chóng và hiệu quả, đem lại nhiều tiện ích cho KH. Tuy nhiên, đối tượng sử dụng kênh này chủ yếu hướng tới các khách hàng trẻ, có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin tốt. Mặt khác, những sai sót, rủi ro và mức độ an toàn của kênh phân phối này còn hạn chế, do đó còn gây tâm lý e ngại cho người sử dụng.
 Có bốn nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng trên. Cụ thế:
Thứ nhất, do trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu
Thực tế, nguồn nhân lực hiện nay của các ngân hàng nhìn chung khá trẻ, năng động, nhiệt tình, chu đáo và cống hiến. Trình độ nguồn nhân lực thực hiện DV PTD của NH được tập huấn hàng năm, cải thiện đáng kể trình độ chuyên môn nhưng trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu luật pháp và các thông lệ quốc tế còn hạn chế, nên vẫn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu, vẫn có những sai sót, nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra trong quá trình giao dịch với khách hàng làm ảnh hưởng đến chất lượng DV PTD cung ứng đến KH
Thứ hai, do chính sách Marketing còn nhiều bất cập, chưa phát huy hiệu quả tốt
Hiện nay tồn tại lớn của công tác quảng cáo, tiếp thị của ngân hàng là nội dụng, hình thức quảng cáo còn đơn điệu, tính cập nhật và hiệu quả thông tin đến khách hàng còn hạn chế. KH không biết hết, hiểu hết những nội dung, tiện ích của sản phẩm dịch vụ NH do đó có những sản phẩm KH hầu như không được triển khai và hoặc có doanh số hoạt động rất khiêm tốn.
Thứ ba,do chiến lược phát triển dịch vụ còn mang tính tự phát
Định hưng pt trin và chiến lưc pt trin DVPTD mang tính tự phát. Các hoạt động của DVPTD của ngân hàng có phát triển nhưng mang tính tự phát, chưa xây dựng được một chiến lược phát triển tổng thể, nhất quán, dài hạn dựa trên cơ sở các thông tin thu được từ việc tổ chức, khảo sát, nghiên cứu nhu cầu của thị trường, chưa đánh giá được những thuận lợi và khó khăn của NH trong tương lai để đưa ra những chính sách phát triển phù hợp. Các nội dung trong chiến lược phát triển DVPTD thường được lồng ghép trong chiến lược phát triển chung của NH nên không đầy đủ và toàn diện.
Ngoài ra còn do một số nguyên nhân khác như  trình độ phát triển kinh tế -xã hội, tâm lý thói quen tiêu dùng của người dân, những bất cập trong môi trường pháp lý
4.   Giải pháp và kiến nghị
Trên cơ sở thực trạng nghiên cứu tác giả xin đề xuất bốn giải pháp cơ bản giúp phát triển dịch vụ phi tín dụng tương xứng với tiềm năng của các NHTM Việt Nam giai đoạn tới như sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó, đặc biệt chú ý phát triển nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao. Do dịch vụ phi tín dụng hiện đại có sử dụng các công nghệ cao, nên đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải có trình độ hiểu biết và làm chủ công nghệ. Cùng với đó, cần xây dựng chính sách thu hút nhân tài và giữ nguồn nhân lực giỏi, gắn bó và cống hiến cho sự phát triển của ngân hàng.Cải thiện trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu luật pháp, thông lệ quốc tế thì còn nhiều hạn chế NH cần có các tập huấn chất lương và tập trung, khâu tuyển dụng cũng cần chủ ý đến các tiêu chí này trong phẩm chất ứng viên hơn. Đây là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách hiện nay. Bởi lẽ nhân viên là người mang lại thành công cho NH, song cũng mang lại rủi ro cho NH
Thứ hai, nâng cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng NH cung cấp . thông qua việc chú trọng nhiều hơn đến chất lượng hoạt động giao dịch trực tiếp với khách hàng. Tăng tính chuyên nghiệp và nâng cao tác phong làm việc và văn hóa giao dịch của nhân. NH cũng cần nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu về khách hàng của mìn. Tăng cường phương tiện hữu hình để tạo độ tin cậy đối với khách hàng. Giảm thiểu các sai sót trong quá trình triển khai.
Thứ 3, phát triển công nghệ ngân hàng.
Các ngân hàng cần xây dựng một chiến lược phát triển công nghệ dài hạn, đi đôi với phát triển nguồn lực hiện có. Việc thay đổi công nghệ ngân hàng khá tốn kém, vì thế nếu không có chiến lược phát triển công nghệ đúng đắn có thể tạo ra sự lãng phí lớn. Chiến lược công nghệ cần đi sâu vào các mặt, như: trình độ công nghệ, kỹ thuật, khả năng cải tiến, nghiên cứu và phát triển sản phẩm dịch vụ, ứng dụng, khai thác công nghệ thông tin, kỹ thuật số, điện tử và viễn thông trong hoạt động kinh doanh (giao dịch, thanh toán, quản trị điều hành…) của ngân hàng.
Phát triển công nghệ ngân hàng phải đảm bảo tính an toàn trong vận hành công nghệ là ưu tiên hàng đầu, vì tất cả các thông tin dữ liệu được lưu trữ trên mạng, một sự cố về công nghệ thông tin có thể mất dữ liệu, hoặc làm cho hoạt động của ngân hàng ngưng trệ ảnh hưởng đến khách hàng, đồng thời gây tổn hại đến uy tín của ngân hàng. Ngoài ra, cần xây dựng quy trình, quy định về thẩm quyền của từng bộ phận chức năng, từng cá nhân trong việc vận hành và sử dụng hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng nhằm tăng mức độ an toàn, tăng tính bảo mật trong hệ thống cơ sở dữ liệu. Thường xuyên có kế hoạch kiểm tra và bảo trì hệ thống đảm bảo sự ổn định
Thứ tư, hạn chế các rủi ro trong phát triển dịch vụ phi tín dụng.
Việc quản lý và phòng ngừa các loại rủi ro là điều hết sức cần thiết và quan trọng khi triển khai các dịch vụ phi tín dụng. Hoạt động này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, năng lực hoạt động của ngân hàng và tác động trực tiếp tới quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng. Các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, gồm: Xác định rõ trách nhiệm của nhân viên trong việc giám sát xây dựng và duy trì các chính sách an ninh của ngân hàng; Thực hiện kiểm tra trực tiếp đầy đủ để ngăn ngừa các hành vi truy cập thực tế chưa được phép trong môi trường máy tính; Các mối quan hệ với các đối tác thứ ba cũng phải được giám sát chặt chẽ…
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin đưa ra một số đề xuất đối với NHNN
 -  Hoàn thin khung pháp lý về thanh toán, khuyến khích các NH mở rộng hệ thng thanh toán kng dùng tin mt trong dân cư. Thc hin tt Đề án tng thphát trin thanh toán không dùng tin mt giai đon 2006-2010 và đnh hưng ti m 2020 theo Quyết đnh số 291/2006/QĐ-TTg với mc tiêu gim lưng tin mt trên tng phương tin thanh toán ở VN xuống dưi 15% đến năm 2020.
-  Triển khai mạnh mẽ Luật do NHNN ban hành, đc bit là Lut NHNN và Lut các tổ chc tín dng mi (2010.
-  NHNN cn chđạo nhanh chóng hoàn thành tnh lp trung tâm chuyn mch tài chính quc gia thng nht trong cnưc, cho phép kết ni mng sdng máy ATM chung cho các NHTM trên toàn quốc, từ đó thống nhất mức thu phí DV thgiữa c NH, qua đó to điu kin phát trin mnh mn na DV thẻ ti VN và cũng góp phần đẩy nhanh vic gim lượng tin mt trong lưu thông.
-   NHNN cn mở rng phm vi thanh toán và thi gian thanh toán của hệ thng thanh toán đin tử liên ng. NHNN cần đng ra làm đu mi, cùng với các NHTM thực hin tt d án hin đại hóa NH và hthng thanh toán giai đon II.
Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay  gắt,  nhu cầu phát  triển  các DVPTD nhằm đáp ứng nhu cầu về DV của khách hàng được xem là điều tất yếu của các NHTM trong nền kinh tế. Trên cơ sở những định hướng đúng đắn trong việc phát triển DVPTD cung cấp cho khách hàng, các NHTM đều đang nỗ lực thu hút khách hàng, tăng tỷ trọng thu DV, đồng thời góp phần thúc đẩy việc xã hội hóa thanh toán không dùng tiền mặt. Tác giả hy vọng với những giải pháp, kiến nghị đưa ra sẽ góp phần giúp các NHTM phần nào khắc phục được các các tồn tại, hạn chế của mình, thưc hiện thành công mục tiêu phát triển DVPTD cho giai đoạn tới.
 
TÀI LIỆU THAM KHO
1.    Nguyễn Thị Phương Lan và  Phan Thị Linh, 2013. Để phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM. Tạp chí kinh tế và dự báo, số 17, trang 21-23.
2.   Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Luật ngân hàng nhà nước và Luật các Tchc tín dng, 2010. Hà Nị: Nhà xut bn Pháp lý.
3.    Đào Lê Kiều Oanh và Phạm Anh Thủy, 2012. Vai trò phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 6, trang 41-45.
4.    
Nguyễn Thị Qui, 2008. Giáo trình Dịch vụ ngân hàng hiện đại. Đại học Ngoại Thương, Hà Nội 

 
Nguyễn Thị Nguyệt Loan - Giảng viên Khoa TCNH
Luyện thi toiec
KẾT NỐI SINH VIÊN VỚI DOANH NGHIỆP
   
Copyright © 2015 Dainam.edu.vn
ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN
 
Kết nối
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
Cơ sở chính: Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội
Cơ sở 1: 56 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: (04) 35577799 - Fax: (04) 35578759
Email: dnu@dainam.edu.vn
 
BẢN ĐỒ
Xem bản đồ lớn
Untitled-_635779296109267799.png